Non nước Việt Nam

==Thư viện ảnh==

Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_3__lop_3.flv IMG_0219.jpg Rosedripblood1.gif THOI_TRANG_SU_TU.jpg Thiep_moi_sinh_nhat_Thanh_Nghi.swf Mungtrungthu2.swf HAPPY_NAW_YEAR.swf Chuc_mung_nam_moi2011.swf 025Duong_ve_hai_thon__Thu_hien.mp3 Lich_su_Viet_Nam_2_6__AOL_Video.flv QC_CMGD_Chia_se_kien_thuc_2010v1.gif Picture118.png Presentation1.flv Hinh0147_001_001_002.jpg Bay_giua_ngan_ha.swf HaiDuong.jpg LaiChau.jpg KonTum.jpg HaTinh02.jpg

****** MENU ******

Bộ đếm trang Web

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Gốc > GÓC CHUYÊN MÔN >

    Các dạng bài thi môn Địa Lý


    Các dạng đề thi môn Địa lý
    Chuyên gia giáo dục hướng dẫn học sinh ôn thi trong chương trình Tư vấn mùa thi của Báo Thanh Niên - Ảnh: Khả Hòa

    Phần lý thuyết 

    Môn Địa lý vẫn theo hình thức tự luận. Qua các năm, đề thi tuyển sinh ĐH-CĐ môn Địa lý có 3 câu: 2 câu lý thuyết (6,5 - 7,0/10 điểm) và 1 câu thực hành (3,0 - 3,5 điểm). Trong 2 câu lý thuyết có 1 câu bắt buộc dùng chung cho cả 2 đối tượng thí sinh, 1 câu tự chọn dành riêng cho thí sinh học chương trình khác nhau.

    Thí sinh cần nắm kiến thức cơ bản một cách toàn diện và có hệ thống. Trong quá trình học, cần xây dựng đề cương một cách chặt chẽ, rõ ràng, đầy đủ của từng bài và từng vấn đề của chương trình. Cũng cần lưu ý những số liệu dẫn chứng cần thiết, phù hợp (có thể sử dụng số liệu mới cập nhật nhưng phải kèm theo năm).
    Các dạng đề thi môn Địa lý

    Ông Đoàn Văn Xuân - Ảnh: Nhựt Quang

    + Câu lý thuyết dành cho cả 2 chương trình: Gồm các nội dung về: dân cư, lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, ngoại thương, giao thông vận tải, những vấn đề phát triển kinh tế xã hội trên các vùng lãnh thổ... Vì vậy, học sinh học chương trình cải cách có thể tham khảo thêm sách thí điểm chuyên ban (và ngược lại) để có được kiến thức phong phú hơn.

    + Câu lý thuyết tự chọn: Thường là những nội dung, những vấn đề riêng, không trùng lặp ở 2 chương trình như về tài nguyên thiên nhiên, đường lối phát triển kinh tế xã hội, vấn đề giáo dục, y tế, văn hóa, VN trong mối quan hệ với các nước Đông Nam Á... (chương trình cải cách); lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ Việt Nam, đặc điểm chung của tự nhiên, vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên; chất lượng cuộc sống, đô thị hóa ở Việt Nam; đặc điểm nền nông nghiệp, địa lý ngành thủy sản, lâm nghiệp, vấn đề phát triển công nghiệp năng lượng... (chương trình phân ban thí điểm).

    Để làm tốt phần lý thuyết, thí sinh cần nắm và phân biệt được các dạng đề thường gặp như dạng trình bày hoặc phân tích, dạng chứng minh, dạng giải thích, dạng so sánh... 

    Phần thực hành (bắt buộc) 

    Đề thi thường cho sẵn bảng số liệu rồi yêu cầu vẽ biểu đồ, qua đó nêu nhận xét và giải thích hiện tượng. Đây là phần đề thi mà trong quá trình làm bài có nhiều thí sinh còn rất lúng túng và gặp khó khăn bởi vì phần này đòi hỏi nhiều kỹ năng để thực hiện.

    + Vẽ biểu đồ: Từ một bảng số liệu đã cho, có nhiều cách thể hiện biểu đồ khác nhau với mức độ hiệu quả cũng khác nhau. Tuy nhiên trong đề thi các năm gần đây thường yêu cầu vẽ loại biểu đồ thích hợp nhất. Vì vậy, trong quá trình học và rèn luyện các em cần nắm chắc những kiến thức về biểu đồ, phân biệt được các dạng biểu đồ để xác định đúng biểu đồ thích hợp nhất theo yêu cầu của đề bài, phải chú ý đến mối quan hệ giữa các tiêu chí trong bảng số liệu, vấn đề xử lý số liệu phù hợp yêu cầu của đề và biểu đồ đã chọn. Tuy nhiên, trong xử lý số liệu, cần rèn luyện kỹ năng tính toán, đặc biệt từ những số liệu của các tiêu chí đã có phải tạo các tiêu chí và số liệu mới (từ số liệu về dân số, diện tích thì phải tính được mật độ dân số...) cùng với đơn vị sử dụng. Vẽ biểu đồ, thí sinh cần thể hiện sự chính xác, đầy đủ các yếu tố của biểu đồ. Các dạng biểu đồ thường gặp: biểu đồ cột (cột đơn, cột ghép, cột chồng), biểu đồ tròn, biểu đồ đường (đồ thị, đường biểu diễn), biểu đồ miền (số liệu tương đối, số liệu tuyệt đối), biểu đồ kết hợp (cột và đường).

    + Về nhận xét: Thường dựa vào bảng số liệu (số liệu thô hoặc đã qua xử lý), dựa vào biểu đồ đã vẽ. Nhận xét trước hết phải dựa vào yêu cầu của đề bài để tránh lệch hướng. Các nhận xét phải từ khái quát đến cụ thể, mối quan hệ giữa các nội dung, tiêu chí; không bỏ sót số liệu nhưng cũng không nên tỉ mỉ. Đối với bảng số liệu hoặc biểu đồ có nhiều năm thì phải nêu được đặc điểm biến động của hiện tượng (biến động chung, biến động theo từng giai đoạn nhất định). Trong nhận xét, cần chú ý đến việc xử lý số liệu để dẫn chứng, làm rõ ý nhận xét.

    + Về giải thích: Cần phải có kỹ năng vận dụng kiến thức đã có được để giải thích hiện tượng như phải biết chọn lọc, tổng hợp và sắp xếp kiến thức phù hợp với yêu cầu của đề bài.

    Lưu ý khi làm bài

    - Đọc đề thật kỹ để nhận dạng đề thi, giúp xác định đúng yêu cầu của đề thi và hình thành được cách giải, tránh bị lệch hướng, lạc đề.

    - Phải phác thảo đề cương với các ý chính, rồi các ý chi tiết.

    - Phân bố thời gian hợp lý cho từng câu hỏi, trung bình mỗi câu khoảng 50 phút, tránh tập trung thời gian vào 1 hoặc 2 câu. Thời gian còn lại dành cho việc hoàn chỉnh, xem lại bài.

    - Diễn đạt cần súc tích, rõ ràng, chính xác. Tránh diễn đạt dài dòng đi xa nội dung yêu cầu của đề thi. Trong bài làm có thể phân ra các mục 1, 2, 3... a, b, c... và gạch đầu dòng các ý chi tiết.

    Đ.V.X

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Anh Thi @ 09:05 12/05/2009
    Số lượt xem: 342
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến