Non nước Việt Nam

==Thư viện ảnh==

Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_3__lop_3.flv IMG_0219.jpg Rosedripblood1.gif THOI_TRANG_SU_TU.jpg Thiep_moi_sinh_nhat_Thanh_Nghi.swf Mungtrungthu2.swf HAPPY_NAW_YEAR.swf Chuc_mung_nam_moi2011.swf 025Duong_ve_hai_thon__Thu_hien.mp3 Lich_su_Viet_Nam_2_6__AOL_Video.flv QC_CMGD_Chia_se_kien_thuc_2010v1.gif Picture118.png Presentation1.flv Hinh0147_001_001_002.jpg Bay_giua_ngan_ha.swf HaiDuong.jpg LaiChau.jpg KonTum.jpg HaTinh02.jpg

****** MENU ******

Bộ đếm trang Web

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Gốc > QUÊ HƯƠNG HÀ TĨNH > DANH NHÂN HÀ TĨNH >

    Hà Mục Tông

    Hà Tông Mục (Tôn Mục) sinh ngày 25-9 năm Quý Tỵ (1653) mất ngày 7-3 Ðinh Hợi (1707) tự Hậu Như, hiệu Thuần Như, Chuyết Trai, Ðôn Phủ; là một danh thần nổi tiếng triều Lê, có nhiều công trạng to lớn đối với đất nước, là người có ân tình sâu nặng với quê hương trong đạo lý truyền thống Việt Nam và có tư tưởng đổi mới, dân chủ.





    Làng quê ông, làng Tỉnh Thạch, huyện Thiên Lộc (nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh nằm ở phía nam Hồng Lĩnh, là một làng quê giàu truyền thống yêu nước. Vùng ấy còn có nhiều danh nhân văn hóa, nhiều bậc trung liệt như Ðặng Dung, Ðặng Tất...

    Dòng họ Hà của ông là một dòng họ khoa bảng, các đời đều có người là trụ cột của đất nước, như cụ Hà Tông Trình (1434 - 1511) từng là thượng thư bộ Binh, bộ Hình, bộ Công, Tế tửu Quốc Tử Giám thời Lê sơ.

    Bản thân Hà Tông Mục là một kiện tướng chốn khoa trường. Ông đỗ tiến sĩ năm 1688, lại đỗ đầu kỳ thi ứng chế, tức kỳ thi dành cho các tiến sĩ ở điện Vạn Thọ, đầu bài do chính nhà vua ra. Mấy năm sau, Hà Tông Mục lại thi đỗ khoa Ðông Các là khoa thi đặc biệt chỉ dành cho những người đã đỗ tiến sĩ và đang làm quan.

    Ông từng giữ các chức quan như: Lại khoa cấp sự trung (kiểm tra công việc quan lại, tổ chức); Nội tán (dạy học cho con, cháu vua chúa); Thủy sư; Biên tu quốc sử quán; Ðốc đồng (trấn giữ) hai xứ Tuyên - Hưng; Phủ doãn phủ Phụng Thiên (đứng đầu kinh đô); Chánh sứ; Tả thị lang bộ Hình (đứng thứ hai sau thượng thư, hàng tam phẩm).

    Thời đại của Hà Tông Mục là thời đại suy vong của nhà Lê, thực quyền thuộc về họ Trịnh, nhà Thanh thường xuyên lăm le xâm lược, trong nước rối loạn, đạo lý suy vi.

    Sự quật cường và đạo lý tốt đẹp của dân tộc ẩn tàng trong nhân dân và được thể hiện mạnh mẽ bởi những trung chính thần hiếm hoi như Hà Tông Mục. Với tài năng lỗi lạc của mình, Hà Tông Mục đã đóng góp rất xứng đáng để giải quyết mối họa ngoại xâm, giữ yên đất nước, phát triển kinh tế - xã hội ở nơi ông cai quản.

    Năm 1699, nhà Thanh xâm lấn Bảo Lạc (Cao Bằng), Hà Tông Mục và Nguyễn Hành đã lui được giặc trong cuộc đấu tranh ngoại giao với Sầm Trì Phượng. Năm 1703, đi sứ sang Trung Quốc, Hà Tông Mục đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giữ được hòa hiếu hai nước, khiến vua nhà Thanh Khang Hy hết sức cảm phục, tặng cho một bức đại tự do chính Khang Hy viết "Nhược xung hiên", khắc gỗ và sơn son tại Trung Quốc, hiện còn giữ tại đền thờ Hà Tông Mục ở quê. Ba chữ đó có nghĩa là "khiêm nhường, trí tuệ, chí khí cao cả".

    Hà Tông Mục là một tác giả của "Ðại Việt sử ký tục biên".

    Ðánh giá công trạng của Hà Tông Mục, các triều Lê, Nguyễn đã có tám đạo sắc phong. Sắc phong năm Chính Hòa 14 (1693) viết: "Sắc ban Hà Tông Mục người có tâm thuật, giỏi gánh vác việc công, am tường về từ chương".

    Sắc phong năm Vĩnh Thịnh thứ ba (1707) viết: "Sắc quang tiến Vinh lộc đại phu bồi tụng Hình bộ Tả thị lang Hoan lĩnh nam Hà Tông Mục, dự trúng tiến sĩ, trải giữ các chức; phụng sự lâu năm, đi sứ phương bắc, chăm lo việc nước có công, nay mất khi tại chức, thực đáng xót thương".

    Chuẩn y tặng: Ðặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu (hàm chánh nhất phẩm) Công bộ thượng thư, Hoan lĩnh tử. Ðặt thụy (tên sau khi chết) là Mẫn Ðạt.

    Tuy nhiên, điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là tấm lòng ân tình và tư tưởng dân chủ, công bằng, yêu thương con người bao la của Hà Tông Mục.

    Có hai dẫn chứng rất sinh động. Một là, khi ông còn sống, nhân dân đã lập đền thờ, gọi là Sinh từ. Trong bia Sùng chỉ còn lưu ở xã Tùng Lộc (cỡ 200 x 400 cm) đã được GS. Hà Văn Tấn dịch có đoạn viết: "Công (Hà Tông Mục) sinh ra tính trời dĩnh ngộ, bảy, tám tuổi đã thông Thi, Lễ... Công đối với quê hương ơn sâu, đức dày; có nhiều công trừ tai họa, xóm làng đều bội phục, xin tôn thờ công và phu nhân làm hương tổ phụ mẫu...". Ðáp lại thịnh tình này, Hà Tông Mục nói: "Việc trung cần đối với nước, việc hiếu thuận đối với nhà, ăn ở hòa mục với dân làng là chức phận đương nhiên của tôi vậy. Sau này kẻ hậu sinh có chí thì noi theo, có lòng thì cảm nhận. Ngày nay mọi người đã suy nghĩ như vậy (lập sinh từ) cũng là lẽ trời, lòng người. Nay xin tự tạ" (Lời ký về việc suy tôn).

    Hà Tông Mục không coi bản thân mình là trọng. Cái đáng trọng là lẽ trời, lòng người. Cái điều ông muốn hậu sinh cảm nhận và noi theo cũng chính là chỗ đó.

    Hà Tông Mục mất ở tuổi 55, cái tuổi đã "tri thiên mệnh". Ðiều ông nhớ đầu tiên là nhớ về hai người mẹ: "Danh vọng và sự nghiệp của ta là nhờ ở hai người mẹ. Một bà sinh ra ta và một bà họ Ðỗ (mẹ vợ) cần được ghi nhận và tế tự cùng tổ tiên muôn đời". Ðó là một đoạn trích trong di chúc. Trong di chúc này, học giả Phạm Phú Bằng coi là "quốc bảo" còn thấy ông quản lý chặt chẽ từng quan tiền, thước ruộng, chia cho con cháu, biếu tặng người nghèo phân minh. Ở thời buổi "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô" (dù một trai cũng là có, dù 10 gái cũng là không), thì Hà Tông Mục đã chia đều tài sản cho bốn con trai, gái bằng nhau. Không những thế, ông còn chú ý đến tính nết, hoàn cảnh, sự hy sinh của từng người. Cô con gái Hà Thị Thụy vì tàn tật nên được chia thêm một mẫu ruộng; thưởng cho con gái Hà Thị Chuyên một mẫu để mua sắm quần áo (vì cô này tằn tiện, lo việc nhà, ít khi mua sắm quần áo). Ðoạn di chúc của ông viết về hai bà vợ thật vô cùng cảm động: "Hai bà vợ của ta: một người là con gái trưởng dòng họ Vũ ở thôn Thuần Chân, xã Nội Thiên Lộc là Vũ Thị Lâm, hiệu Từ Tĩnh, từ thuở nhỏ đã kết tóc xe duyên cùng ta, theo chồng làm lụng, trông nom cửa nhà; một người là con gái trưởng của quan huyện thừa Thanh Hà (Hải Dương), họ Vũ, quê ở xã Ngọc Trì, huyện Lang Tài, thuộc Kinh Bắc...

    Xưa kia phụ thân ta giỏi về phương pháp chữa bệnh, nhân khi chữa khỏi bệnh cho họ, họ muốn gả con gái cho ta. Khi ta xa cách gia đình, muốn gả con gái cho người khác, nhưng vợ ta giữ nghĩa nhất định không chịu...

    Bà nhạc mẫu họ Ðỗ của ta, khi ta đi du học ở kinh đã chăm lo cho ta mọi việc học hành, sách vở, quần áo cho đến dụng cụ học tập nhất nhất đều lo liệu chu đáo. Ðợi đến 10 năm, khi con gái lớn lên mới gả cho ta. Công lao đầy tình nghĩa ấy không bao giờ ta quên được".

    Với người đọc kỹ và có suy ngẫm về những lời lẽ trên, người viết bài này không thể nói gì thêm về đạo làm người, đạo làm quan, sự toàn vẹn riêng, chung.

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Anh Thi @ 12:14 13/05/2009
    Số lượt xem: 567
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến