Non nước Việt Nam

==Thư viện ảnh==

Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_3__lop_3.flv IMG_0219.jpg Rosedripblood1.gif THOI_TRANG_SU_TU.jpg Thiep_moi_sinh_nhat_Thanh_Nghi.swf Mungtrungthu2.swf HAPPY_NAW_YEAR.swf Chuc_mung_nam_moi2011.swf 025Duong_ve_hai_thon__Thu_hien.mp3 Lich_su_Viet_Nam_2_6__AOL_Video.flv QC_CMGD_Chia_se_kien_thuc_2010v1.gif Picture118.png Presentation1.flv Hinh0147_001_001_002.jpg Bay_giua_ngan_ha.swf HaiDuong.jpg LaiChau.jpg KonTum.jpg HaTinh02.jpg

****** MENU ******

Bộ đếm trang Web

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Gốc > Cuộc sống quanh ta >

    Triết lý sống

    ( Đọc truyện ngắn "Ngàn năm sóng hát" của Nguyễn Toàn)

    Trước hết cần khẳng định ngay rằng: cách tiếp cận đời sống theo chiều hướng đi sâu khai thác những trạng thái bi kịch trong tâm hồn con người không còn là sự khám phá, phát hiện hoàn toàn mới mẻ, độc đáo của văn học Việt Nam một vài thập niên gần đây.

    Bởi lẽ, cuộc sống hiện đại, ở mặt trái và góc khuất của nó, luôn tiềm tàng nguy cơ xô đẩy con người đến nhiều nông nỗi bi kịch. Cái yếu tố bi kịch với nhiều vật lộn đau đớn, giằng xé, do đó, đã trở thành một trạng thái tinh thần có tính chất phổ biến, đặc trưng của con người trong xã hội hiện đại. Những nông nỗi ấy, cũng rất tự nhiên, đi vào và đọng lại trên trang viết của nhiều tác giả cùng với sứ mệnh vừa dung dị vừa cao cả của văn chương. Nó càng đặc biệt ám ảnh các cây bút trẻ (về tuổi đời lẫn tuổi nghề) trong đời sống văn học đương đại, trong đó có cả những cây bút tham gia cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ 2006 – 2007 như Ngô Phan Lưu, Hồ Thị Ngọc Hoài, Y Ban, Nguyễn Danh Lam, Đinh Hữu Trường, Nguyễn Quốc Hùng…( dĩ nhiên trong số họ có những người cũng không còn trẻ nữa).

    Trong bản hợp ca với âm điệu chung trầm buồn và da diết về những nông nỗi con người, Ngàn năm sóng hát của Nguyễn Toàn vẫn mang một thanh âm khá riêng biệt. Nó đau đáu, khắc khoải bởi ý thức khơi sâu vào bi kịch của những đổ vỡ trong đời sống tâm hồn, tình cảm con người hiện đại, để lại những ám ảnh, day dứt trong lòng độc giả.

    Truyện mở ra trên nền bối cảnh một làng chài ven biển Nam Trung Bộ, như rất nhiều làng chài khác trên khắp rẻo đất này, buồn hắt hiu, nghèo xơ xác và cằn cỗi sự sống, lại đang phải gồng mình chống chọi với những khắc nghiệt của công cuộc mưu sinh trước biển cả “ vạm vỡ, cường tráng, từ tâm và quỉ quyệt”. Ở đó, nhân vật chính, tên Phong, một người đàn ông của làng chài, xuất hiện ở tư thế người kể chuyện ngôi thứ nhất, trong dòng chảy tâm lý triền miên, có đan xen ít nhiều hơi hướng của sự kể lể giãi bày… đang lắp ghép, xâu chuỗi từng mảnh đời dang dở và sứt mẻ của mình. Những ký ức tuổi thơ. Nỗi ám ảnh về một làng chài tin hin và hiu hắt, ở đó có “một con bé thường tha thẩn một mình trên bãi”… Rồi ôm mối hận tình bẽ bàng xa lìa bản quán. Rồi lại bầm dập trở về từ chính nơi xuất phát sau những năm tháng dằng dặc buồn thương, trải lòng trước biển, trước người …Hành trình là mình, rồi tự (hay bị) đánh mất mình để rồi có thể lại được là chính mình của nhân vật tôi được nối kết bằng những đau đớn, dằn vặt của một trạng thái tình cảm trước sự va đập quyết liệt, nảy lửa với một môi trường sống vốn chứa đựng trong nó quá nhiều bất trắc và đổ vỡ.

    Truyện đi theo một mô típ không mới, với một ý đồ tư tưởng không còn xa lạ với độc giả. Điều đáng chú ý chính là sự đan dệt một cách công phu của những trạng huống đời sống mang màu sắc đổ vỡ. Cùng với nó, trạng thái  mang tính bi kịch của tâm hồn con người cũng càng lúc càng được đẩy lên tới tận cùng giới hạn.

    Đầu tiên là cái chết tức tưởi của người cha cùng 39 bạn chài khác mang theo ước vọng về một miền đất hứa bên kia bờ đại dương thăm thẳm. Đám tang tập thể không chỉ đồng nghĩa với sự chết chóc tang thương, với chuyện sinh ly tử biệt, mà ở một khía cạnh khác, nó là sự tan vỡ ước vọng đổi đời, được thoát khỏi kiếp sống nghèo đói tù hãm của những người còn sống nơi làng chài còm cõi, hiu hắt.

    Nhân vật tôi đã lớn lên trong nỗi ám ảnh âm thầm về sự nghèo đói tù hãm và cái chết của 40 con người trong một ngày tang tóc kinh hoàng của làng chài.

    Tiếp đến là sự tan vỡ của mối tình đầu đời sáng trong, thánh thiện trước sự xuẩn ngốc và gian xảo của chính những người thương yêu nhất (một là người con gái mà anh đã yêu “ thầm lặng si mê” và “ nguyên sơ như giấy trắng”, một là Kiếm, người bạn, người anh, người thày đã “mở cánh cửa đầu tiên” để anh “tiếp xúc với đời”, “chấm dứt những ngày kéo lê kiếp sống mù lòa”…). Nỗi bẽ bàng, ê chề, đau đớn song hành cùng những ám ảnh, mặc cảm về sự bội bạc, phản trắc của con người trước những giá trị thiêng liêng nhất của đời sống. Người con trai, trong nỗi tủi hận ám ảnh dai dẳng ấy, đã lạnh lùng khước từ tấm chân tình của người bạn gái thủơ thiếu thời, đồng nghĩa với sự tự mình chối bỏ mảnh ký ức ngọt ngào, ấm nóng để rồi trắng tay, thậm chí “âm giá trị” chới với bước vào đời sống mưu sinh hiện tại.

    Lần thứ ba, cũng là bi kịch lớn nhất, chấm dứt mọi bi kịch là sự đổ vỡ của cuộc hôn nhân với người vợ tên Thúy, dù cũng bắt đầu bằng tình yêu, dù cũng có thời gian hạnh phúc khá dài nhưng không cưỡng nổi những cám dỗ cuộc đời trong hành trình tha hương kiếm sống nơi đô thị. Vẫn là sự phản trắc, gian xảo, nhưng được bọc dưới lớp vỏ tinh vi hơn, vì thế mà càng trở nên đểu cáng, ê chề hơn. Cái bi kịch tan vỡ của nhân vật được đẩy lên giới hạn cuối cùng để rồi sau đó chuyển sang một trạng thái khác nhuốm màu tha hóa. Nếu ở trên mới là sự sứt mẻ thì đến đây, là sự tan tành, tung hê của những giá trị. Nỗi đau từ chỗ điên cuồng đến hóa dại “sẵn sàng bóp chết bất cứ kẻ nào vô ý động đến mình”, cuối cùng chìm lẫn trong thăm thẳm và nguội lạnh ở một cõi âm u, vô hồn, “đã mất hết những cảm xúc yêu đương”, chỉ còn lại “lưỡi thép sáng xanh” của sự ác độc và thù hận. Sự thành công trên thương trường gắn liền với thủ đoạn cùng những cuộc chinh phạt đau thương. Để rồi trong những cơn mộng mị vẫn mơ trở về “ với bãi cát hàng dương, với làng chài hiu hắt, với Lam, tiếng cười trong vắt, mái tóc lõa xõa trong nắng và giọng nói lanh canh như thủy tinh rơi trên cát”…

    Bao bọc xung quanh ba trạng huống chính của sự đổ vỡ, gắn liền với ba mảnh đời dang dở, chắp vá của Phong còn là hàng loạt những biểu hiện khác của sự mất mát, của những mảnh đời không lành lặn: sự ra đi bằn bặt không hồi đáp của Kiếm, của Thúy, người bạn gái trở thành thiếu phụ trong gia đình giàu có trên phố bên cạnh người chồng thỉnh thoảng lại lên cơn động kinh để có tiền thuốc thang cho mẹ, ánh mắt hoang hoải của người con gái một thời từng “ thánh thiện”, “ vô nhiễm tựa thiên thần”, sự thật về chủ tịch Lâm và những cuộc vượt biên trái phép ở làng chài, nghĩa địa hiu hắt nhuốm mùi đô la bỗng trở lên kỳ quái và lòe loẹt màu sắc…

    Xét ở bình diện thủ pháp xây dựng truyện ngắn, sự bổ sung đan cài thêm những chi tiết nhuốm màu sắc đổ vỡ và mất mát này vô hình trung làm cho câu chuyện trở nên dàn trải, thiếu tính cô đọng dồn nén ở một thể loại vốn kiệm lời và không đòi hỏi cao ở số lượng chi tiết. Điều đó thuộc về sự trải nghiệm cũng như kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật vốn cần nhiều dày công.

    Vấn đề là ở chỗ: tác giả đã gửi gắm điều gì thông qua những bộn bề đổ vỡ ấy?

    Ở lớp nghĩa bề mặt, rất dễ nhận ra, một cách lý giải, cắt nghĩa về đời sống hiện đại rất đặc trưng của phần lớn các cây bút trẻ. Một cái nhìn hiện thực trực diện đến bạo liệt, trần trụi đến thô tháp mà vẫn đầy ắp tính nhân văn trong ý thức tôn vinh giá trị của tình người, của khát vọng được tồn tại như một con người trong bối cảnh tính người dần bị đánh cắp do những đổ vỡ mà đời sống mang lại.

    Ở một lớp nghĩa sâu xa hơn, câu chuyện là một thông điệp về thái độ sống, về hành vi sống của con người. Cái thái độ, hành vi sẽ góp phần qui định tư cách làm người chân chính ở mỗi con người. Thước đo quan trọng nhất chính là thái độ ứng xử trước những đổ vỡ, bất trắc của đời sống và của mỗi số phận. Thái độ ấy được tác giả đề cập và giải quyết trên hai bình diện. Thứ nhất là ý thức (hoặc chỉ đơn giản là một lựa chọn không thể khác) thoát ra khỏi những đổ vỡ bế tắc bằng hành động trở về nương náu trong thăm thẳm yêu thương và bao dung nơi nguồn cội, tìm thấy ở đó ý nghĩa và giá trị đích thực của đời sống.

    “Biển vẫn trẻ như ngàn năm vẫn trẻ. Sóng vẫn rì rào hát khúc tháng năm. Tôi như ngọn gió đi hoang giờ về ngồi bên đồi cát quê hương. Tôi nghe có một mầm xanh vừa nhú mọc trên mặt đất lòng tôi cằn cỗi. Phía sau lưng, dấu chân chúng tôi gió đã xóa mờ”…

    Cái liệu pháp tinh thần vốn “cổ xưa như trái đất”. Nhưng thường con người chúng ta bao giờ cũng phải trải qua một hành trình dài với dằng dặc buồn thương, đắng đót, với biết bao đổ vỡ mất mát mới ngộ ra một cách đầy thấm thía và đau xót. Cảm nhận muộn màng nhưng rất thực của nhân vật tôi về “một mầm xanh vừa nhú mọc trên mặt đất lòng cằn cỗi”một lần nữa khẳng định sức mạnh chở che, bao bọc của những giá trị truyền thống, của nguồn cội trước những thiếu hụt trong đời sống tình cảm của con người hôm nay.

    Ở bình diện thứ hai của thái độ ứng xử, Ngàn năm sóng hát còn là sự thể hiện khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc mãnh liệt, không chấp nhận thỏa hiệp hay đầu hàng buông xuôi, tự đánh mất mình trước cuộc đời nghiệt ngã bất trắc. Cái khát vọng không chỉ có ý nghĩa hồi sinh con người mà còn là động lực, là sức mạnh thôi thúc họ tiếp tục sống khi sau lưng là bao nhiêu đổ vỡ và phía trước vẫn là những bất trắc đón chờ. Tất cả những điều ấy là căn nguyên căn bản khiến truyện của Nguyễn Toàn bước từ ranh giới của nỗi cô đơn trống rỗng trong tâm hồn trở về bản nguyên của sự khát thèm sự sống, của niềm ham sống. Bởi vì con người sau những va đập, những đổ vỡ nảy lửa nhận ra phần còn lại của đời sống mình càng trở nên quí giá và có ý nghĩa biết chừng nào.

    Cấu trúc tác phẩm dựa trên những đổ vỡ, mất mát nhưng lại truyền tải một thông điệp về sự hàn gắn, hồi sinh và bồi đắp. Đó chính là chỗ độc đáo của những triết lý về đời sống mang tinh thần nhân văn trong Ngàn năm sóng hát.

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Anh Thi @ 19:24 03/04/2009
    Số lượt xem: 519
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến